Năng lực khoa học

NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU CỦA VIỆN

Viện KH Địa chất và Khoáng sản được thành lập theo quyết định số 95-CP của Chính phủ ngày 16/6/1976 trên cơ sở Đoàn Địa chất 45. Sau 40  năm xây dựng và phát triển, đội ngũ cán bộ khoa học của Viện đã lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và trình độ chuyên môn với nhiều cán bộ khoa học được đào tạo hệ thống, giàu kinh nghiệm thực tế gồm 3 TSKH, 2PGS, 21 TS, 34 ThS và 150 KS và CN. Hiện nay, Viện có 12 phòng nghiên cứu chuyên ngành và 2 đơn vị trực thuộc, với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tinh luyện, hệ thống trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề cơ bản của địa chất học hiện đại như:

1. Tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học-công nghệ về địa chất-khoáng sản, kinh tế địa chất, địa chất tai biến và địa chất môi trường.

2. Nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển khoa học-công nghệ ngành địa chất. Đánh giá tiềm năng và dự báo triển vọng tài nguyên khoáng sản, tư vấn quy hoạch khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội của Quốc gia và các địa phương.

3. Tham gia xây dựng quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn và định mức kinh tế-kỹ thuật ngành. Tham gia và tổ chức các hội đồng xét duyệt đề án, báo cáo, các công trình khoa học-công nghệ thuộc lĩnh vực địa chất và khoáng sản, kinh tế địa chất, địa chất tai biến và địa chất môi trường.

4. Tư vấn khoa học kỹ thuật, công nghệ, hợp tác và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực địa chất và môi trường, địa chất du lịch... Tư vấn kinh tế-kỹ thuật-công nghệ, chuyển giao công nghệ và hoạt động dịch vụ nguyên liệu khoáng trong và ngoài nước, sản xuất thử nghiệm các sản phẩm  nguyên liệu khoáng.

5. Tổ chức các hoạt động thông tin khoa học kỹ thuật địa chất, kinh tế địa chất và môi trường dưới dạng các ấn phẩm, hội nghị, hội thảo KH, quảng cáo và giới thiệu sản phẩm. Phát triển các quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, thực hiện các dự án, chương trình, đề tài hợp tác nghiên cứu khoa học-công nghệ và đào tạo chuyên môn, đào tạo trên đại học với các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước theo nhu cầu.

Năng lực các phòng thí nghiệm và phân tích của Viện:

Viện hiện có 5 cơ sở phân tích đứng hàng đầu của Việt Nam: Phân tích khoáng thạch học; Phân tích cổ sinh; Phân tích và giám định đá quý; Phân tích mẫu bao thể; Phân tích thành phần vật chất trên thiết bị phân tích vi điện tử dò JXA 8900 và phân tích đồng vị trên máy khối phổ kế Ar – 5400. Các cơ sở phân tích thí nghiệm của Viện bao gồm:

+ Phòng thí nghiệm phân tích khoáng thạch học: Được trang bị các thiết bị kính hiển vi phân cực hiện đại(Axiolab, Axioskop 40, Stemi 2000), là đơn vị duy nhất ở Việt Nam có thiết bị đồng bộ và khả năng phân tích, phân tích kiểm tra các loại mẫu thạch học (lát mỏng), khoáng tướng(mài láng) và trọng sa các loại. Phòng có 2 tổ gia công mẫu khoáng thạch và trọng sa với đầy đủ các thiết bị, vật tư có thể đảm nhận gia công các loại mẫu lát mỏng, mài láng, vi cổ sinh, bao thể, microsonde, mẫu hoá, mẫu trọng sa nhân tạo và thiên nhiên.

+ Phòng nghiên  cứu cổ sinh và địa tầng: Là phòng phân tích mẫu cổ sinh hoàn thiện nhất ở Việt Nam, được trang bị các thiết bị hiện đại với đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao, gồm nhiều TS, ThS và CN, có khả năng gia công và phân tích các mẫu hoá thạch(cổ sinh lớn, vi cổ sinh, bào tử phấn, thực vật) từ Tiền Cambri đến hiện nay.

+ Phòng nghiên cứu khoáng sản không kim loại:

- Phân tích độ hạt: Máy phân tích độ hạt Model: S3500 - Standard do hãng Microtrac(Mỹ) sản xuất, phân tích độ hạt bằng tia laser cho độ chính xác cao với mọi cấp cỡ hạt. Có khả năng phân tích mẫu ướt hoặc khô, có thể sử dụng lại mẫu để thực hiện các phân tích khác. Máy được nối trực tiếp với máy tính được cài đặt phần mềm chuyên dụng, kết quả(dạng số liệu và biểu đồ) bảo đảm tính khách quan và chính xác.

- Thí nghiệm nung nở, nung chảy: Lò nung Model LHT 08/18 do hãng Nabertherm(Đức) sản xuất, nhiệt độ nung tối đa 18000C, với bộ điều khiển điện tử C42, có thể xác định chính xác nhiệt độ nung và đặt chế độ nung nhanh chậm theo từng khoảng nhiệt độ ấn định, thích ứng được với các quy trình nung phức tạp, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thử nghiệm và xác định các quy trình kỹ thuật nung đối với các loại vật liệu theo yêu cầu của người sử dụng. Có thể xác định được độ chịu lửa, nhiệt độ chảy của các loại nguyên vật liệu sứ gốm, thuỷ tinh,... xác định đặc điểm phồng nở của vật liệu như vermiculit, mica...

+ Phòng nghiên cứu khoáng vật và địa chất đồng vị:

- Phân tích hoá trên thiết bị vi phân tích điện tử dò JXA 8900: Thiết bị do hãng JEOL (Nhật) sản xuất, có thể xác định hàm lượng các nguyên tố hoá học từ Bor (B5) đến Urani (U92) trên bề mặt mẫu với diện tích vài mm, độ nhạy phân tích của thiết bị là 0,01%-0,001%. Có thể xác định hàm lượng các nguyên tố theo điểm, đường và có phòng gia công mẫu riêng để đáp ứng yêu cầu và chất lượng phân tích. Đối tượng phân tích là các loại vật liệu rắn: Các khoáng chất thiên nhiên và nhân tạo, các mẫu kim loại và hợp kim, các chất tổng hợp như vật liệu bán dẫn, siêu dẫn, composite, gốm sứ... Số liệu phân tích được xử lý bằng một hệ thống phần mềm chuyên dụng và hiện tại có thể nhận phân tích tuổi đồng vị U-Th-Pb trên đơn khoáng vật.

- Phân tích giám định đá quý: Đạt tiêu chuẩn quốc tế(VILAS 005), với các thiết bị hiện đại bao gồm: Kính hiển vi chuyên dụng Gemolit Ultima B, kính hiển vi soi nổi SV8 OPTN và MPC-10, kính hiển vi phân cực SHOPTON, phổ kế Prism 1000, khúc xạ kế hiện số Jemeter Digital 90/N, khúc xạ kế Duplex II, phân cực kế PL Dove Gem, cân tỷ trọng Mettler Toledo, cân điện tử Gemscale 50, thiết bị xác định kim cương Presidium N 1126, thước đo điện tử Presidium N 8540, bộ sách màu N.346000 và bộ mẫu chuẩn. Phân tích giám định được chất lượng tất cả các loại khoáng vật tự nhiên có phẩm chất ngọc như: kim cương, ruby, saphyr, emerald,…

- Phân tích bao thể: Thiết bị phân tích bao thể của hãng Linkam(Anh) bao gồm lò nung TH-600 và TH-1500, hệ thống điều khiển nhiệt độ TMS - 90,  kính hiển vi và thiết bị chụp  ảnh. Phân tích bao thể để xác định nhiệt độ thành tạo của các khoáng vật, quặng bằng phương pháp đồng hoá (homogenization).

- Phân tích tuổi đồng vị trên máy khối phổ kế Ar-5400 (thiết bị đang được lắp đặt và vận hành)

Ngoài ra, tại các phòng chuyên môn còn có các thiết bị phục vụ phân tích nhiệt động học, môi trường và nhiều thiết bị đo địa vật lý hiện đại như: Máy đo địa chấn 48 kênh (Stravisor NZII48), máy đo từ trường toàn phần ENVI MAG, ENVI GRAD/VLF của hãng SCINTREX, các thiết bị đo phân cực 1 chiều, xoay chiều của Canada, Pháp, Tiệp Khắc, với rất nhiều phần mềm chuyên dụng hiện đại.

Viện có một thư viện khoa học hiện đại với hàng vạn đầu sách, ấn phẩm KH bằng nhiều thứ tiếng(Anh, Pháp, Nga...), một bảo tàng địa chất với nhiều mẫu đá và khoáng vật, hoá thạch và quặng phục vụ cho nghiên cứu khoa học và học tập.

 

Đăng nhập
Liên Kết