NHIÊN LIỆU KHOÁNG VÀ VẤN ĐỀ TRONG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG

Tài nguyên nhiên liệu và năng lượng là nguồn lực cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, quốc gia nào giàu có về nguồn tài nguyên này là cơ sở tiền đề tốt nhất cho đáp ứng đầu vào của hệ thống kinh tế, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về chính trị và an ninh quốc phòng

Tuy nhiên phát triển năng lượng trong mối quan hệ tương hỗ giữa khai thác, sử dụng với bảo vệ môi trường là vấn đề nan giải và vì vậy cần có sự quan tâm thích đáng.

Theo dự báo của  Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), tiêu thụ năng lượng ở các nước không thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) sẽ tăng tới 90%, trong khi chỉ tăng 17% ở các nước OECD.

Về vấn đề sản xuất năng lượng, báo cáo của EIA dự báo, năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân sẽ là những nguồn năng lượng tăng trưởng nhanh nhất, với tốc độ tăng dự kiến mỗi loại lên tới 2,5% mỗi năm.

Tuy vậy, nhiên liệu hóa thạch vẫn tiếp tục là nguồn cung cấp cho gần 80% lượng năng lượng tiêu thụ cho toàn thế giới tới năm 2040. Trong đó, khí tự nhiên sẽ là loại nhiên liệu hóa thạch có mức độ tăng trưởng nhanh nhất, với việc Mỹ và Nga đóng góp tới 1/3 sản lượng khí đốt tự nhiên tăng thêm của thế giới.

 Song cũng chính việc sử dụng năng lượng với tốc độ ồ ạt như vậy là một trong những nguyên nhân chủ yếu đẫn tới tàn phá môi trường với mức độ ngày càng nghiêm trọng.

Hiện nay sự mất cân bằng trong các mô hình tiêu thụ năng lượng là rất lớn. Các nhu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số đòi hỏi phải triển khai nhanh sản xuất và tiêu thụ năng lượng. Thực trạng hiện nay là: các nguồn cung cấp chất đốt truyền thống cho hơn 70% dân cư trên thế giới ngày một cạn kiệt do nạn triệt phá rừng nghiêm trọng. Còn việc khai thác bừa bãi, chế biến và sử dụng chưa hợp lý các nhiên liệu khoáng đã tác động trực tiếp lên môi trường địa chất, môi trường mỏ và môi trường sinh thái nói chung. Ví dụ nước thải từ các mỏ khai thác làm nhiễm bẩn các nguồn nước. Còn theo Thomas M thì một trong những nguồn chủ yếu tích lũy khí CO2, CH4, CO, N2, SO2…tạo hiệu ứng nhà kính mà hậu quả sẽ làm hành tinh nóng dần lên là sự phát tán các chất khí nói trên do khai thác và sử dụng than chưa hợp lý về mặt kỹ thuật và công nghệ bảo vệ môi trường.

Hiện nay khoảng ¾ năng lượng thế giới tiêu thụ là dưới dạng nhiên liệu khoáng (than, dầu và khí thiên nhiên). Phần năng lượng còn lại được cung cấp chủ yếu là thủy điện, năng lượng nguyên tử, và các dạng năng lượng mới khác. Khi sử dụng nguyên liệu khoáng thường gây ra ô nhiễm không khí, axit hóa đất trồng, ô nhiềm các nguồn nước và thu hẹp cánh rừng…, làm thay đổi khí hậu, đặc biệt là sự nóng lên của khí quyển. Các chi phí đề kiểm soát những vấn đề nêu trên và đề giải quyết các hậu quả về sức khỏe con người và môi trường là rất lớn và khó dự toán đầy đủ.

Năng lượng thế giới tiêu thụ dưới dạng nhiên liệu khoáng chủ yếu là than, dầu và khí thiên nhiên, ta xem xét từng mức độ khai thác và sử dụng của ba loại này :

  • Tình hình khai thác và sử dụng than

Toàn thế giới hiện tiêu thụ khoảng trên 4 tỷ tấn than hàng năm. Một số ngành sử dụng than làm nguyên liệu đầu vào như: sản điện, thép và kim loại, xi măng và các loại chất đốt hóa lỏng. Than đóng vai trò chình trong sản xuất ra điện ( than đá và than non) các sản phẩm thép và kim loại (than cốc).

Than là một trong những hàng hóa chịu áp lực mạnh nhất trong bối cảnh giá tài nguyên khoáng sản đang chịu nhiều tác động. Cả than nhiệt trị lẫn than luyện kim đều giảm mạnh trong những năm qua, ngay cả khi phát điện bằng than nhiệt trị vẫn chiếm khoảng 41% trong tổng phát điện của thế giới, còn than luyện kim vẫn rất quan trọng cho sản xuất thép.

Hàng năm có khoảng trên 4 triệu tấn than được khai thác, con số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở Châu Á, trong khi đó Châu Âu khai thác với tốc độ chậm dần.

Các nước khai thác nhiều nhất không tập trung trên một châu lục mà nằm rải rác trên thế giới, năm nước khai thác lớn nhất hiện nay là : Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nam Phi. Hầu hết các nước khai thác than cho nhu cầu tiều dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than cứng dành cho thị trường xuất khẩu. Lượng than khai thác được dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn, với Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lượng.

Biểu đồ 10 quốc gia sản xuất than nhiều nhất thế giới

Than đóng vai trò quan trọng với sản xuất điện và vai trò này sẽ còn được duy trì trong tương lai. Khoảng 39% lượng điện sản xuất ra trên toàn thế giới là từ nguồn nguyên liệu này sẽ vẫn được duy trì trong tương lai (dự báo cho đến năm 2030). Lượng tiêu thụ than cũng được dự báo sẽ tăng ở mức từ 0.9% đến 1.5% từ nay cho đến năm 2030. Tiêu thụ về than cho nhu cầu trong các lò hơi sẽ tăng khoảng 1.5%/năm trong khi than non, được sử dụng trong sản xuất điện, tăng với mức 1%/năm. Cầu về than cốc, loại than  được sử dụng trong công nghiệp thép và kim loại được dự báo tăng với tốc độ 0.9%.Thị trường than lớn nhất là châu Á, chiếm khoảng 54% lượng tiêu thụ toàn thế giới, trong đó nhu cầu chủ yếu đến từ Trung Quốc.

Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc là những nước nhập khẩu than lớn nhất thế giới. Trong bối cảnh giá dầu thô ở mức thấp, giá than luyện kim chịu tác động chủ yếu bởi nhu cầu của Trung Quốc suy giảm: Ngành công nghiệp thép nước này cắt giảm sản lượng, trong khi chính phủ Trung Quốc nâng cao thuế nhập khẩu và đưa ra những quy định mới về chất lượng than, để giảm áp lực lên môi trường từ các nhà máy nhiệt điện than. Năm 2015, nhập khẩu than của Trung Quốc đã giảm tới 30%, mức 204 triệu tấn so với năm 2014.

Tình trạng cung vượt quá cầu trên thị trường than thế giới và việc sụt giảm giá than tới mức thấp nhất trong những năm trở lại đây đã khiến cho các công ty khai thác than và các nước xuất khẩu than gặp nhiều khó khăn

Một số nước khác không có nguồn nhiên liệu tự nhiên phải nhập khẩu than cho các nhu cầu về năng lượng và công nghiệp như Nhật Bản, Đài Bắc và Hàn Quốc. Không chỉ những nước không thể khai thác than mới phải nhập khẩu mà ngay cả các quốc gia khai thác lớn nhất thế giới cũng phải nhập than. Nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho dự trữ hay những nguồn than có chất lượng. Than sẽ vẫn đóng vai trò quan trọng, đặc biệt tại các khu vực có tốc độ tăng trưởng cao. Tăng trưởng của thị trường than dành cho đốt lò hơi và than cốc sẽ mạnh nhất tại châu Á, nơi mà nhu cầu về điện, sản xuất thép, sản xuất xe hơi và nhu cầu dân sinh tăng cao theo mức sống ngày càng được cải thiện.

Biểu đồ 10 quốc gia tiêu thụ than nhiều nhất thế giới

Giá than năm 2015 của các quốc gia xuất khẩu than hàng đầu thế giới đều giảm so với giai đoạn 2013-2014. Xét trên phạm vi rộng hơn, giá các mặt hàng khoáng sản thế giới trong thời điểm hiện tại đã giảm 30% so với cùng kỳ năm 2010. Những nguyên nhân của hiện tượng suy thoái này có thể kể đến như khủng hoảng kinh tế khiến các nhà đầu tư e ngại, sự chững lại của ngành công nghiệp nặng trên toàn cầu và cả chính sách thắt chặt nhập khẩu năng lượng của quốc gia đứng hàng đầu thế giới về tiêu thụ than đá - Trung Quốc.

Ba chỉ số giá than nhiệt lượng cao chủ chốt trên thị trường thế giới hiện đều đã giảm xuống thấp hơn so với giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, do nhu cầu giảm trên toàn cầu, nhất là ở châu Á, và sản lượng khai thác mỏ vẫn duy trì ở mức cao.

Giá tham chiếu các loại thanAmsterdam-Rotterdam-Antwerp GCLARAPDSMc15 (châu Âu), Newcastle GCLNWCPFBMc14 (Australia) và GCLRCBPFBMc2 Vịnh Richards (Nam Phi) đều đã giảm xuống chỉ khoảng 51 – 58 USD/tấn, tức là thấp hơn 60% so với mức cao nhất gần đây đạt được vào năm 2011, và thấp hơn 75% so với mức cao kỷ lục lịch sử đạt được vào năm 2008.

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), đến năm 2017, nhu cầu tiêu thụ than đá toàn cầu sẽ "đuổi kịp" nhu cầu tiêu thụ dầu, với tỷ lệ tương ứng lần lượt là 4,32 tỷ tấn than và 4,4 tỷ tấn dầu. Theo tổ chức này, nguyên nhân chủ yếu của thay đổi này chính là việc thị trường dầu mỏ đang ngày càng xuất hiện nhiều rủi ro và biến động, trong khi đó than đá là một mặt hàng “an toàn” hơn nhiều. Ngoài ra, nhu cầu lớn nhất đến từ hai đất nước đang đặt mục tiêu phát triển công nghiệp nặng lên hàng đầu đó là Trung Quốc và  Ấn Độ.

Trong khi đó Việt Nam tình hình sản xuất và tiêu thụ cũng  đang gặp rất nhiều khó khăn khi liên tục phải giảm giá bán, trong khi giá than nhập từ nước ngoài còn rẻ hơn giá thành khai thác.Thời gian trở lại đây ngành khai thac than đang có những dấu hiệu tích cực, đặc biệt là than đá khi giới phân tích nhận định nhu cầu về than sẽ tăng dần trong thời gian tới.

  • Đối với dầu mỏ:

Do tầm quan trọng của dầu mỏ đối với kinh tế thế giới nên nó đã trở thành lý do cho những mâu thuẫn chính trị , xung đột giữa các quốc gia với khả năng cung cầu rất khác nhau từ những nước có nền kinh tế phát triển với các quốc gia quản lý nguồn cung dầu mỏ lớn trên thế giới. Đặc biệt, với tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ-OPEC, WTI , Nga là nước chi phối nguồn cung cầu của thị trường dầu thô từ nhiều năm nay.

                  

Tỷ trọng dầu mỏ của 10 nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới ( Nguồn: CIA World Factbook)

Theo thống kê của tổ chức năng lượng quốc tế, IEA, tổng nguồn cung dầu thô trên thế giới vào khoảng 84 triệu thùng/ngày. Nhiên liệu hóa lỏng 93,3 triệu thùng/ ngày. Dự báo, đến năm 2030, tổng cung dầu thô toàn thế giới khoảng 94 triệu thùng /ngày. Nhiên liệu lỏng 112triệu thùng/ngày.

Thế giới đang đối diện với giai đoạn cung vượt cầu toàn cầu về dầu thô kéo dài nhất trong 3 thập kỷ qua. Theo IEA, kể từ khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, mới xảy ra nguồn cung dầu thô toàn cầu vượt xa nhu cầu tiêu thụ kéo dài liên tiếp như hiện nay,  khối OPEC không giảm sản lượng khai thác, cùng sự trở lại của một số dàn dầu đá phiến của Mỹ. IEA dự báo tình hình này sẽ kéo dài tới những tháng đầu năm 2016, tình trạng thừa cung rất có thể sẽ không còn vào những quý tiếp theo năm 2016, do tiêu thụ dầu thô tăng lên khi kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục ổn định dù không đồng đều giữa các nước.

Theo báo cáo của IEA kể từ 2010, Mỹ đã tăng công suất thêm 4 triệu thùng/ngày, bên cạnh Mỹ, các nước sản xuất dầu mỏ ngoài khối OPEC như Nga, Canada… cũng gia tăng sản lượng theo hàng năm.

Nguồn : Tổng hợp dữ liều của EIA

 

Với nhịp độ phát triển kinh tế kỹ thuật hiện nay, nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên thế giới hàng năm tăng từ 1- 2% / năm. Dự báo, nhu cầu tiêu thụ dầu thô tại Châu Á đến năm 2030 có thể đạt tới 42,6 triệu thùng /ngày, chiếm khoảng 38% thế giới.

 Dự báo cung - cầu dầu thô thế giới : Theo Báo cáo triển vọng dầu thô thế giới của Wood Mackenzie năm 2015, tăng trưởng nhu cầu dầu thô sẽ tăng chậm do triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu còn khá mong manh. Dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2018 dự báo sẽ đạt chỉ đạt 1,9%, do dự báo về một cuộc suy thoái mang tính chu kỳ vào năm 2018. Do đó, tăng trưởng nhu cầu dầu thô toàn cầu sẽ chỉ còn 0,7 triệu thùng/ngày trong năm 2018  và tăng trưởng thấp sẽ còn tiếp tục trong năm 2019. Bên cạnh đó, tăng trưởng nhu cầu đối với các sản phẩm dầu như diesel trong dài hạn cũng sẽ giảm. Theo WM, xu hướng giảm sử dụng dầu diesel trong phương tiện vận tải, chủ yếu tại châu Âu, sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng diesel trong dài hạn.

Thêm vào đó là xu hướng giảm sử dụng động cơ diesel trong sản xuất công nghiệp chủ yếu tại Trung Quốc và châu Âu, kéo theo nhu cầu diesel trong lĩnh vực công nghiệp đi xuống. Tăng trưởng nhu cầu trong lĩnh vực hóa dầu chậm lại cũng tác động đến tổng nhu cầu dầu thô thế giới trung và dài hạn.

Đối với Việt Nam số liệu của Tổng cục Hải quan cho biết, tính đến hết tháng 3/2016, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 1,82 triệu tấn, giảm 17,4%. Như vậy, trong quý I, xuất khẩu dầu thô giảm 446 triệu USD, trong đó do giá giảm là 282 triệu USD và lượng giảm là 164 triệu USD. Đáng chú ý, theo Tổng cục Hải quan, lượng dầu thô xuất khẩu sang Trung Quốc trong quý I tăng cao đột biến với 1,2 triệu tấn. Với kết quả này, Trung Quốc trở thành thị trường lớn nhất nhập khẩu dầu thô của Việt Nam trong quý I/2016.

  • Đối với khí thiên nhiên

Khí thiên nhiên được sử dụng làm nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến hóa chất, là một nhiên liệu gia dụng, nó còn được sử dụng làm nhiên liệu công nghiệp...

Châu Á là một trong những thị trường khí đốt hấp dẫn nhất thế giới. Những quốc gia như Thái Lan và một số nước Đông Nam Á khác đã có nhu cầu tăng mạnh trong mấy năm qua. Tại các quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc, nhu cầu cũng rất mạnh. Chính sự bùng nổ nhu cầu về khí đã tạo ra những thách thức lớn, nhất là về vấn đề giá cả.

Tại những nơi trên thế giới mà nhu cầu khí gas thấp, bất kỳ công ty nào phát hiện ra nguồn khí thường buộc phải bán qua những hợp đồng dài hạn, thường là với giá rất rẻ. Nhưng ở những nơi phát hiện ra trữ lượng khí lớn, nhu cầu thường tăng mạnh sau đó. Những nhà máy điện sử dụng nguyên liệu khí đua nhau mọc lên. Các nhà máy công nghiệp cũng đua nhau được xây dựng. Và bởi nhu cầu tăng, việc định giá trở nên phức tạp hơn. Việc ngày càng nhiều nhà cung cấp cạnh tranh bán hàng, kiểm soát giá cũng trở nên khó khăn hơn. Nhiều khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn. Giá tăng cũng kéo theo hoạt động thăm dò khí gia tăng.

Ở Việt Nam hiện nay guồn khí Việt Nam phân phối chủ yếu để sản xuất điện (Chiếm đến 90% nguồn khí khai thác), sản xuất phân bón (chiếm 6% nguồn khí), và sử dụng trong công nghiệp (chiếm 4% nguồn khí), thể hiện trong hình 2. 

Sản xuất điện từ khí chiếm đến 40% tổng lượng công suất điện hiện nay, và sản xuất phân bón từ khí chiếm 35% tổng sản lượng. 

Mặc dù nền công nghiệp khai thác và chế biến khí của việt nam còn khá non trẻ, song cũng đã đi vào hoạt động ổn định. Sản phẩm của các nhà máy chế biến khí của Việt Nam hiện nay là khí khô thương phẩm, LPG và condensate. Trong đó có hai loại sản phẩm LPG và Condensate đã được tận dụng triệt để mang lại hiệu quả kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia. Sản phẩm khí khô thương phẩm mà thành phần chủ yếu là khí metan và etan chỉ dùng làm nhiên liệu cho các nhà máy điện với giá trị kinh tế thấp. Trong khi đó, trên thế giới người ta đã tận thu khí khô thương phẩm để sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa dầu dể sản xuất ra hàng loạt sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy định hướng cho ngành công nghiệp hóa dầu là một hướng đi đúng, phù hợp vói xu hướng thế giới và tiềm năng khí Việt Nam.

Theo dự báo, nhu cầu khí sẽ tăng trưởng nhanh trong thập niên hiện nay, và dự kiến sẽ đạt ở mức 23 Bcm/năm vào năm 2020. Sản xuất điện vẫn giữ vai trò tiêu thụ chủ đạo của nguồn khí hiện nay. Dự báo nhu cầu thị trường tiêu thụ khí trong thời gian tới làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp: điện, phân bón, hóa dầu, các ngành công nghiệp khác.

Việc sử dụng nguồn khí tự nhiên dùng để chuyển hóa thành công nghiệp phân bón và hóa dầu (sản xuất ammoniac, và các sản phẩm hóa dầu khác…) làm gia tăng giá trị lên nhiều lần so với sử dụng khí tự nhiên trong ngành công nghiệp điện. Do đó, trong thời gian tới cần tăng cường việc sử dụng nguồn khí vào các lĩnh vực hóa dầu nhằm nâng cao giá trị nguồn tài nguyên khí tự nhiên của đất nước.

Kết luận:

Khi phát triển năng lượng trong mối quan hệ giữa khai thác và sử dụng rất đáng quan tâm các vấn đề có tính toàn cầu có thể tác động đến sự phát triển năng lượng trong mỗi nước.

Giá dầu trên thế giới thay đổi thất thường. Điều đáng lưu ý là giá dầu hạ sẽ gây tác động nhanh đến kinh tế. Song, xung lượng của những nổ lực nâng cao hiệu quả năng lượng và phát triển các giải pháp thay thế cho nhiên liệu khoáng ngay khi giá dầu tăng cao cũng có thể giảm đi.

Mặc dù các nước đang phát triển tiêu thụ đến 1/3 năng lượng của thế giới, song nhiều nước vẫn không có khả năng có đủ nguồn năng lượng. Hầu hết những nước này phụ thuộc vào nguồn thu nhập dầu nhập khẩu, nhiên liệu sinh khối và năng lượng động vật. Nếu nhịp độ công nghiệp hóa và xu hướng tăng dân số vẫn diễn ra như hiện nay thì các nhu cầu năng lượng còn tăng khủng khiếp hơn trong những thập kỷ tới. Nếu các biện pháp hiệu quả về năng lượng không được áp dụng, thì chắc chắn không thể đáp ứng nổi các nhu cầu này.

Trong khi tập trung đáng kể cho thăm dò dầu mỏ và khai thác than thì khí nhiên liệu (kể cả khí mêtan ở các mỏ than) chưa được khai thác hết tiềm năng. Chương trình thủy điện nhỏ, năng lượng địa nhiệt vẫn chưa được sử dụng trên quy mô rộng lớn, mặc dù chương trình này có thể khai thác cung cấp các nguồn năng lượng rẻ, hiệu quả và hợp lý về mặt bảo vệ môi trường.